Matomo.php - TNTY Group

Children playing on seamless orange and blue EPDM rubber safety surfacing at a TNTY playground

Sàn cao su EPDM – hướng dẫn kỹ thuật cho sân chơi

Sàn cao su EPDM đổ tại chỗ (wet-pour) là mặt sàn an toàn mặc định cho sân chơi lâu dài, sân chơi nước splash pad, sân trường và khu thể dục, và điều đó có lý do. Nó liền mạch, có thể thi công đạt đúng một chiều cao rơi được chứng nhận, nhận mọi màu sắc và hoạ tiết bạn muốn, thoát nước tốt, và tiếp cận được bằng xe lăn theo cách mà vật liệu rời không bao giờ làm được. Nó cũng là loại mặt sàn bị đặc tả sai nhiều nhất, vì chủ đầu tư thường viết một con số chiều dày tính bằng milimét rồi cho rằng đó là đặc tả. Không phải vậy.

Hướng dẫn này giải thích một hệ EPDM thực sự được cấu tạo ra sao, điều gì phân biệt hạt tốt với hạt rẻ tiền, chiều dày liên hệ với chiều cao rơi tới hạn (CFH) như thế nào, EN 1177 và ASTM F1292 thực sự thử nghiệm cái gì, và điều kiện nhiệt đới ven biển của Việt Nam tác động tới mặt sàn theo thời gian ra sao. Mục tiêu là cho bạn đủ nền tảng kỹ thuật để viết một đặc tả mà nhà thầu không thể lặng lẽ hạ cấp, và để nhận ra một lần thi công kém ngay khi nó đang diễn ra thay vì sau hai mùa mưa.

Nếu bạn đang chọn giữa các loại mặt sàn chứ chưa đi vào chi tiết một loại, hãy đọc bài so sánh các loại mặt sàn sân chơi trước. Về bối cảnh dự án rộng hơn, bài hướng dẫn thiết bị sân chơi ngoài trời nói rõ mặt sàn nằm ở đâu trong trình tự triển khai.

Sàn cao su EPDM đổ tại chỗ là gì

Đổ tại chỗ là một hệ đúc tại công trường gồm hai lớp. Hạt cao su được trộn với chất kết dính polyurethane ngay tại công trường, đổ ra, cán phẳng và xoa tay tới cao độ, rồi để đóng rắn. Kết quả là một tấm liền khối duy nhất, không có mối nối.

  • Lớp mặt. Lớp trên cùng nhìn thấy được, thường làm từ hạt EPDM, một loại cao su tổng hợp bền UV và bền màu vì sắc tố nằm trong bản thân hạt cao su chứ không phải trong một lớp phủ.
  • Lớp nền hấp thụ xung lực. Thường là hạt SBR, cao su đen tái chế, được kết dính bằng polyurethane. Đây là lớp đảm nhận phần lớn công việc giảm chấn, và chiều dày của nó là thứ bạn thay đổi để đạt một chiều cao rơi nhất định.

Vì lớp nền rẻ hơn lớp mặt, cả hệ trở nên kinh tế: bạn chỉ trả tiền cho màu ở chỗ nhìn thấy màu, và trả tiền cho hiệu năng giảm chấn ở chỗ xảy ra va đập. Chính cơ chế kinh tế đó là lý do các đơn vị thi công thiếu trung thực cắt lớp nền chứ không cắt lớp mặt: mặt sàn hoàn thiện trông y hệt nhưng hiệu năng kém hơn rất nhiều.

Cấu tạo đầy đủ, tính từ dưới lên

Một mặt sàn EPDM chỉ tốt bằng đúng những gì nằm dưới nó. Trên thực tế, lớp nền là nơi phần lớn hư hỏng sớm bắt nguồn.

  1. Nền đất. Được lu lèn, ổn định, tạo dốc đúng thiết kế. Nền đất yếu hoặc không phẳng dẫn tới lún, làm nứt hoặc võng mặt sàn phía trên.
  2. Lớp móng. Cấp phối đá dăm lu lèn khi không dùng lớp nền có chất kết dính, giúp phân bố tải và thoát nước.
  3. Lớp nền cứng. Hoặc bê tông nhựa thấm nước, hoặc bê tông, hoặc lớp cấp phối lu lèn kỹ tuỳ theo thiết kế. Bê tông cho kết quả ổn định và dự đoán được nhất, nhưng phải thi công có độ dốc và có thoát nước, đồng thời phải đủ tuổi và khô hoàn toàn trước khi đổ cao su.
  4. Lớp lót. Quét lên lớp nền để lớp đệm giảm chấn bám dính thay vì bong tách. Bỏ qua lớp lót là một lối tắt phổ biến và không thể nhìn thấy được.
  5. Lớp SBR hấp thụ xung lực. Đổ đúng chiều dày mà chiều cao rơi yêu cầu.
  6. Lớp mặt EPDM. Thường thi công ở chiều dày danh nghĩa trong khoảng 10 đến 15 mm tuỳ cỡ hạt và hệ vật liệu, đổ khi lớp nền còn khả năng bám dính hoặc sau khi quét lót, rồi xoa đều để đạt bề mặt đồng nhất.
  7. Bó biên. Bó vỉa, nẹp biên hoặc gờ bê tông giật cấp để mép mặt sàn được đỡ và không bị cong vênh hay bong ra.
  8. Thoát nước. Tạo dốc về rãnh thu hoặc thoát nước theo chu vi. Mặt sàn thấm nước đặt trên lớp nền giữ nước là nguyên nhân phổ biến nhất gây hỏng sớm tại Việt Nam.

Chất lượng hạt: tiền thực sự đi về đâu

Trẻ em chơi trên mặt sàn cao su EPDM liền mạch màu cam và xanh tại sân chơi TNTY
Mặt sàn EPDM liền mạch khi sử dụng: không mối nối, không gờ vấp, xe lăn đi được

Hai mặt sàn trông giống hệt nhau vào ngày đầu tiên có thể là hai sản phẩm rất khác nhau. Những biến số đáng đưa vào đặc tả:

Độ tinh khiết EPDM và hàm lượng cao su

Các loại hạt bán ra dưới tên EPDM có hàm lượng polymer thực tế chênh lệch đáng kể, phần còn lại là chất độn. Hàm lượng polymer cao hơn cho độ đàn hồi, khả năng chống xé và khả năng giữ màu tốt hơn. Hạt hàm lượng thấp sẽ bạc phấn, bong bụi và giòn dần. Hãy yêu cầu bảng thông số của hạt, không chỉ hỏi màu.

Độ bền màu

Hạt EPDM thật được tạo màu xuyên suốt. Hãy cảnh giác với hạt phủ màu hoặc sơn màu, trông giống EPDM nhưng phai rất nhanh, nhất là dưới tia UV mạnh. Các màu đỏ, cam và xanh dương tươi là nơi chất lượng sắc tố kém lộ ra sớm nhất.

Cỡ hạt và cấp phối

Cỡ hạt lớp mặt thường nằm trong khoảng 1 đến 4 mm, cấp phối mịn hơn cho bề mặt nhẵn và đặc hơn, cấp phối thô hơn cho nhiều nhám hơn và cần nhiều chất kết dính hơn một chút. Cấp phối đồng đều quan trọng hơn cỡ hạt chính xác; vật liệu cấp phối kém làm việc xoa mặt không đều.

Chất kết dính

Chất lượng chất kết dính polyurethane và, quan trọng hơn cả, tỷ lệ chất kết dính quyết định độ bền và tuổi thọ. Quá ít chất kết dính thì mặt sàn bong hạt dưới lưu lượng đi lại. Quá nhiều thì mặt sàn bị bít, mất khả năng thấm và trở nên trơn bóng. Chất kết dính một thành phần đóng rắn bằng ẩm ứng xử khác nhau ở độ ẩm cao so với khí hậu khô, điều rất đáng lưu tâm tại Việt Nam.

Hàm lượng tái chế và hoá chất

Khi lớp nền dùng cao su tái chế, REACH là mốc tham chiếu về các chất bị hạn chế, và việc yêu cầu bản công bố là hợp lý. Khi có lớp phủ hoặc hoạ tiết in, EN 71-3 về sự thôi nhiễm của một số nguyên tố là mốc tham chiếu an toàn đồ chơi tương ứng.

Chiều dày và chiều cao rơi tới hạn

Đây là phần chủ đầu tư hiểu sai nhiều nhất. Không có bảng quy đổi phổ quát nào biến milimét thành một chiều cao rơi an toàn, vì hiệu năng phụ thuộc vào loại hạt, cấp phối hạt, tỷ lệ chất kết dính, cấu tạo lớp, loại nền và nhiệt độ. Con số duy nhất có cơ sở là con số do thử nghiệm chính hệ đó tạo ra.

Theo EN 1177, một hệ được thử nghiệm để xác định chiều cao rơi tới hạn, và giá trị được chứng nhận phải bằng hoặc lớn hơn chiều cao rơi tự do của thiết bị phía trên. Theo ASTM F1292, hệ phải đạt Chỉ số chấn thương đầu (HIC) không quá 1000 và g-max không quá 200 tại chiều cao thả rơi công bố. Cả hai đều là kết quả đạt hoặc không đạt trong phòng thí nghiệm, gắn với một cấu tạo được mô tả cụ thể.

Các quyết định đặc tả EPDM ảnh hưởng tới kết quả như thế nào
Quyết định Điều gì làm nó tăng lên Ảnh hưởng tới hiệu năng giảm chấn Ảnh hưởng tới chi phí và tuổi thọ
Chiều dày lớp nền SBR Chiều cao rơi tự do cần bảo vệ lớn hơn Yếu tố chính quyết định chiều cao rơi tới hạn Biến số chi phí chủ yếu của cả hệ
Chiều dày lớp mặt EPDM Lưu lượng sử dụng cao, nhu cầu bền hơn Đóng góp nhỏ vào khả năng giảm chấn Ảnh hưởng mạnh tới tuổi thọ mài mòn và chi phí trên mỗi m2
Hàm lượng polymer EPDM Hạt cấp cao hơn Không ảnh hưởng trực tiếp Giữ màu tốt hơn, ít bạc phấn, tuổi thọ dài hơn
Tỷ lệ chất kết dính Nhiều chất kết dính hơn Mặt sàn cứng hơn, có thể giảm khả năng giảm chấn Bền hơn nhưng kém thấm nước nếu dùng quá tay
Loại nền Bê tông thay vì cấp phối đá dăm Kết quả thử phụ thuộc vào nền, nên phải thử đúng cấu tạo thực tế Chi phí đầu tư cao hơn, ổn định hơn nhiều về lâu dài
Thiết kế thoát nước Độ dốc và cửa thoát đúng Giữ được hiệu năng theo thời gian Rẻ khi thiết kế từ đầu, đắt khi phải cải tạo sau

Cách viết đặc tả thực tế: nêu chiều cao rơi tự do lớn nhất cho từng vùng va đập, yêu cầu đơn vị thi công đề xuất một cấu tạo hệ đã được chứng nhận đạt hoặc vượt giá trị đó, và yêu cầu báo cáo thử nghiệm cho đúng cấu tạo đó trên đúng loại nền đang dùng. Sau đó yêu cầu nghiệm thu chiều dày thực tế, ví dụ bằng cách khoan lấy mẫu tại các vị trí đã thống nhất, vì chiều dày là thứ duy nhất không còn kiểm chứng được một khi công trình đã xong và đã thanh toán.

Khí hậu Việt Nam: điều gì thực sự bào mòn mặt sàn

Mặt sàn cao su EPDM đổ tại chỗ quanh thiết bị sân chơi tại GS Metro City
Mặt sàn EPDM đổ tại chỗ liền mạch, tạo dốc quanh chân móng thiết bị

Khí hậu nhiệt đới gió mùa của Việt Nam tấn công mặt sàn đổ tại chỗ trên bốn mặt trận cùng lúc.

  • Cường độ UV. Tia UV mạnh quanh năm phá huỷ sắc tố kém và polymer cấp thấp rất nhanh. Đây là chỗ hạt rẻ tiền tự lộ diện trong hai năm đầu.
  • Mưa lớn. Mưa cường độ cao làm quá tải hệ thoát nước thiếu tiết diện. Nước đọng lại ở các điểm trũng, sinh rêu tảo và màng sinh học, làm mặt sàn trơn và đẩy nhanh quá trình phân huỷ chất kết dính.
  • Độ ẩm khi thi công. Chất kết dính polyurethane đóng rắn bằng ẩm phản ứng với độ ẩm không khí và độ ẩm trong lớp nền. Đổ cao su lên nền bê tông còn ẩm hoặc chưa đủ tuổi là nguyên nhân hàng đầu gây bong tách và phồng rộp. Khung thời gian thi công phải tôn trọng điều này, không chỉ tôn trọng lịch tiến độ.
  • Nhiệt độ. Mặt sàn màu sẫm đạt nhiệt độ rất cao dưới nắng trực tiếp, ảnh hưởng cả tới cảm giác dễ chịu và, ở mức cực đoan, tới ứng xử của mặt sàn. Quy hoạch bóng mát là một quyết định về mặt sàn chứ không chỉ là quyết định về tiện nghi, đặc biệt với khu trẻ nhỏ và sàn splash pad.

Ở các công trình ven biển còn phải cộng thêm hơi muối, thứ chủ yếu tấn công thiết bị và phụ kiện liên kết chứ không phải lớp cao su, nhưng làm giảm tuổi thọ của mọi thứ xung quanh mặt sàn.

EPDM được dùng ở đâu ngoài sân chơi

Cùng một hệ vật liệu, với trọng tâm đặc tả khác nhau, phục vụ nhiều ứng dụng. Sàn splash pad cần ưu tiên chống trơn trượt và thoát nước hơn là chiều cao rơi, đồng thời tương tác với hoá chất xử lý nước, nội dung nằm trong bài thiết kế sân chơi nước splash pad. Khu thể dục ngoài trời cần độ bền và khả năng chịu va đập dưới tải thiết bị hơn là khả năng giảm chấn sâu, được bàn trong hướng dẫn thiết bị thể dục ngoài trời. Khu thể thao thuộc phạm vi EN 14877 dành cho mặt sân thể thao tổng hợp ngoài trời, một khung hiệu năng khác. Ứng dụng trong nhà đánh đổi yêu cầu chịu thời tiết lấy yêu cầu vệ sinh và chống cháy, được trình bày trong hướng dẫn thiết kế khu vui chơi trong nhà. TNTY cung cấp các hệ này dưới dòng Green Floor và TNTY Floor, cùng các đối tác gồm Robertson Recreational Surfaces và Sports Surface Specialties; danh mục được trình bày tại trang sản phẩm.

Kiểm soát chất lượng thi công tại công trường

Mặt sàn cao su EPDM màu với họa tiết ghép tại sân chơi TNTY
EPDM cho phép phân vùng màu và ghép họa tiết mà không có mối nối hay gờ vấp

Một bản đặc tả chỉ mạnh bằng đúng năng lực giám sát đứng sau nó. Những điểm đáng kiểm tra trong quá trình thi công:

  1. Lớp nền đã đủ tuổi, khô, sạch và đúng độ dốc thiết kế trước khi quét lót. Đọng nước trên nền trần là dấu hiệu báo trước đọng nước trên mặt sàn hoàn thiện.
  2. Lớp lót được quét và để đủ thời gian mở theo quy định.
  3. Kiểm soát khâu trộn: tỷ lệ chất kết dính ổn định, mẻ trộn đồng đều, không tự ý điều chỉnh tại công trường để kéo dài vật liệu.
  4. Chiều dày lớp nền được kiểm tra ngay khi thi công, bằng thước đo chiều sâu và ray cán, không phải ước lượng bằng mắt.
  5. Lớp mặt được thi công liên tục, xử lý kỹ mối giáp giữa các mẻ để đường nối giữa hai mẻ không trở thành điểm yếu lộ rõ.
  6. Các đường chuyển màu và hoạ tiết được cắt và ghép khi vật liệu còn thi công được.
  7. Mép được bó và kết thúc đúng cách vào bó vỉa hoặc gờ chắn.
  8. Quá trình đóng rắn được che chắn khỏi mưa và người đi lại trong khoảng thời gian quy định.
  9. Kiểm tra sau thi công trước khi mở cửa, kèm khoan lấy mẫu ở nơi đã đặc tả việc nghiệm thu chiều dày.

Tuổi thọ, bảo trì và sửa chữa

Một mặt sàn đổ tại chỗ được đặc tả và thi công đúng trên lớp nền ổn định, thoát nước tốt là một tài sản dài hạn. Nó không cần chăm sóc hằng ngày, nhưng cần một chế độ bảo trì.

  • Thường xuyên. Quét và dọn lá cùng rác, đặc biệt tại các điểm thoát nước. Rác giữ ẩm chính là thứ nuôi rêu tảo.
  • Định kỳ. Rửa để loại bỏ màng sinh học. Kiểm tra mép, mối giáp, đường chuyển màu và khu vực quanh chân cột thiết bị, đó là những vùng chịu ứng suất cao nhất.
  • Hằng năm. Đánh giá tình trạng tổng thể, mức hao hụt hạt, độ chai cứng và bất kỳ điểm lún nào. Xác nhận mặt sàn vẫn đáp ứng yêu cầu chiều cao rơi của thiết bị phía trên, nhất là khi có thiết bị được bổ sung hoặc thay đổi.
  • Sửa chữa. Vá cục bộ là khả thi và là cách khắc phục thông thường với phá hoại hoặc hư hỏng đơn lẻ. Miếng vá nhìn thấy được; khớp màu chính xác trên một mặt sàn đã lão hoá là việc khó, đó là lý do nên giữ lại một lượng nhỏ hạt nguyên bản.

Hãy lồng việc này vào chế độ kiểm tra tổng thể được mô tả trong checklist bảo trì và kiểm tra sân chơi. Logic chi phí vòng đời, nơi EPDM thường thắng các phương án rẻ hơn, được trình bày trong bài yếu tố quyết định chi phí dự án sân chơi.

Câu hỏi thường gặp

Sàn cao su EPDM an toàn cần dày bao nhiêu?

Điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào chiều cao rơi tự do bạn phải bảo vệ, cộng với loại hạt, tỷ lệ chất kết dính và lớp nền. Cách làm đúng là nêu chiều cao rơi và yêu cầu một cấu tạo hệ đã được chứng nhận, sau đó nghiệm thu chiều dày thực tế. Bất kỳ nhà cung cấp nào báo một con số chiều dày cho một chiều cao rơi mà không dẫn chiếu báo cáo thử nghiệm đều đang đoán.

EPDM và SBR khác nhau thế nào?

EPDM là cao su tổng hợp nguyên sinh, có màu xuyên suốt, bền UV, dùng cho lớp mặt nhìn thấy được. SBR là hạt cao su tái chế, thường màu đen, rẻ hơn, dùng cho lớp nền hấp thụ xung lực. Một hệ dùng SBR toàn bộ rồi phủ một lớp màu mỏng lên trên không phải cùng một sản phẩm và sẽ không lão hoá giống như vậy.

Sàn cao su EPDM đổ tại chỗ có tiếp cận được bằng xe lăn không?

Có, đó là một trong những ưu điểm chính so với vật liệu rời. Đây là mặt sàn cứng, ổn định và liền mạch. Khi khả năng tiếp cận là yêu cầu chính thức, hãy đặc tả tuân thủ ASTM F1951 cho mặt sàn trên lối tiếp cận được và đọc bài hướng dẫn thiết kế sân chơi hoà nhập và tiếp cận được.

Vì sao mặt sàn cao su của tôi bị bong hạt?

Thường là do thiếu chất kết dính, trộn không đều, nhiễm bẩn trong quá trình thi công hoặc thi công trong điều kiện không phù hợp. Cũng có thể là hiện tượng mất một ít hạt rời trên bề mặt trong vài tuần đầu, điều này bình thường. Bong hạt dai dẳng trên cả một mảng là khiếm khuyết thi công chứ không phải hao mòn, và cần được nêu theo điều khoản bảo hành.

Có thể đổ EPDM trực tiếp lên đất lu lèn không?

Không. Nó cần một lớp nền ổn định và thoát nước tốt. Đổ trên nền không ổn định thì mặt sàn sẽ lún, nứt và võng, và hiệu năng giảm chấn được chứng nhận trên nền phòng thí nghiệm sẽ không tái lập được. Công tác chuẩn bị nền không phải chỗ để tiết kiệm.

Thi công mất bao lâu?

Khâu trộn và đổ tương đối nhanh; tiến độ bị chi phối bởi công tác chuẩn bị nền, thời gian nền đủ tuổi và thời gian đóng rắn của các lớp đã đổ, cùng với yêu cầu thời tiết khô ráo. Dự án vào mùa mưa nên bố trí dự phòng rộng rãi, và lớp nền phải thực sự khô trước khi đổ cao su.

Hãy trao đổi với chúng tôi trước khi mời thầu hạng mục mặt sàn

TNTY Construction Company đã cung cấp và lắp đặt mặt sàn sân chơi và thể thao tại Việt Nam từ năm 2017, từ văn phòng ở Thành phố Hồ Chí Minh và Solna, Thụy Điển, trên các dự án bao gồm hạng mục tại sân bay Tân Sơn Nhất, Nội Bài, Đà Nẵng, Cam Ranh, Phú Quốc và Cát Bi, NovaWorld Phan Thiết và Công viên phường Hoà Thuận Đông ở Đà Nẵng. Chúng tôi cung cấp dịch vụ khảo sát công trường và tư vấn miễn phí, bao gồm tình trạng lớp nền, thoát nước, bảng thống kê chiều cao rơi và đề xuất một cấu tạo đã được chứng nhận. Xem nhãn hiệu của chúng tôi, tham khảo dự án của chúng tôi, hoặc liên hệ qua trang liên hệ, điện thoại 84 28 66 89 8888, hotline 84 937 501 501.

Liên hệ

Văn phòng Việt Nam

  • Địa chỉ: SAV6-01.01, tầng 1, tháp 6, tòa nhà The Sun Avenue, số 28 đường Mai Chí Thọ, phường An Phú, Thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam
  • Tel: 84 28 66 89 8888
  • Hotline: 84 937 501 501

Văn phòng Thụy Điển

Vị trí